Khái quát thực trạng thị trường chè thế giới và trong nước.
Xu hướng của ngành chè Thái Nguyên năm 2021.
Thị trường tiêu thụ nội địa có khả năng mở rộng thêm nhiều. Hiện nay mức tiêu thụ bình quân hàng năm là 260g/năm/người (năm 1997), mức này còn thấp hơn nhiều so với các nước có thói quen uống chè Thái Nguyên xanh (Đài Loan 1300gr, Nhật Bản 1050gr, Hồng Kông 1400gr, Trung Quốc 340gr …)
Theo các chuyên gia dự đoán, mức tiêu thụ nội địa sắp tới còn tăng 5 - 6% năm do dân số tăng và do tiêu thụ theo đầu người cũng có triển vọng tăng lên, do người ta nhận thức được lợi ích của việc uống chè Thái Nguyên (Theo tài liệu của FOA và ADB thì mức tiêu thụ chè trung bình của thế giới sẽ tăng 4 - 5%/năm trong thời gian một vài năm tới). Như vây, mức tiêu thụ chè sẽ tăng từ 24000 tấn năm 2000 lên 35000 tấn năm 2005 và đến năm 2010 sẽ tiêu thụ khoảng 45000 tấn.
Mặt khác, nhu cầu tiêu thụ chè trên thế giới hiện nay rất lớn, trong khi đó xuất khẩu chè của Việt Nam chỉ mới chiếm khoảng 2% của thế giới. Mặc dù thị trường chè trên thế giới đang bị cạnh tranh khá gay gắt, song thực tế vài năm gần đây cho thấy nếu chất lượng chè tốt và giá cả hợp lý thì chè Việt Nam vẫn có thể mở rộng thị trường. Chè của Việt Nam hiện nay đã xuất khẩu tới khoảng 30 nước trên thế giới, hầu hết chè đều được chế biến theo công nghệ ODA. Bên cạnh những bạn hàng quen thuộc là các nước SNG, Đông Âu thì đã có những bạn hàng mới như: Trung cận đông, Anh, Nhật, Đài Loan, Mỹ, … Nhưng do chất lượng chưa cao nên chè của Việt Nam hiện chưa có uy tín ổn định trên thị trường thế giới. Giá chè thế giới bình quân ở mức 2,22 USD/kg năm 1997 (theo số liệu của FAO) thì Việt Nam mới chỉ xuất được với giá bình quân 1,44 USD/kg chỉ có một số ít cơ sở liên doanh liên kết với nước ngoài là xuất được chè với giá 2,2 - 4,5 USD/kg (chè xanh Nhật); 1,8 - 2,0 USD/kg (chè xanh Đài Loan). Nhưng số lượng không đáng kể. Như vậy nếu ngành chè Việt Nam nói chung và Thái Nguyên nói riêng nếu cải thiện được giống chè, nhập khẩu được những dây chuyền chế biến chè hiện đại, kết hợp với hoạt động marketing tốt trên các thị trường và xây dựng cho mình một thương hiệu chính thức thì chè của Việt Nam trong đó có chè Thái Nguyên sẽ giành được thị phần cao trong nước và quốc tế xứng đáng với tiềm năng của cây chè mà thiên nhiên đã ban tặng cho đất nước và con người Việt Nam.
III.2. Cơ hội và thách thức.
1. Cơ hội:
- Khí hậu và đất đai tỉnh Thái Nguyên rất thuận lợi cho việc thích nghi và phát triển của cây chè.
- Người dân Thái Nguyên có kinh nghiệm trồng chè nhiều năm.
- Người dân Việt Nam coi chè như là một đồ uống chính thức trong các ngày lễ, tết và các ngày thường nhật.
- Cây chè được tỉnh uỷ tỉnh Thái Nguyên coi là cây trồng có giá trị kinh tế cao.
- Thu nhập dân cư tăng rõ rệt kể từ khi đất nước đổi mới.
- Quan hệ quốc tế được mở rộng.
- Xu hướng muốn có chè uống sạch, chất lượng cao ngày càng tăng.
- Người Thái Nguyên coi cây chè là sản phẩm đặc sản của vùng.
2. Thách thức:
- Chất lượng chè còn thấp do giống kém, năng suất thấp.
- Nguồn vốn đầu tư cho cây chè còn rất hạn hẹp.
- Dây chuyền chế biến chưa đồng bộ.
- Chè ở các vùng khác trong nước và nhập khẩu có chất lượng cao.
- Chưa có đội ngũ nghiên cứu phát triển.
- Hoạt động tiếp thị, hỗ trợ bán hàng chưa phát triển.
- Chưa quy hoạch được những vùng chè để có chính sách đầu tư cụ thể việc sản xuất và sơ chế vẫn tập trung nhiều ở những hộ gia đình trồng và chế biến chủ yếu theo kinh nghiệm lâu năm.
3. Phân tích cơ hội ma trận
Chè Thái Nguyên | Những điểm mạng S | Những điểm yếu W |
| - Người dân có kinh nghiệm trồng chè nhiều năm. - Được tỉnh uỷ quan tâm - Khí hậu, đất đai thuận lợi do việc phát triển cây chè | - Chất lượng chè còn thấp do giống kém, năng suất thấp. - Dây chuyền chế biến lạc hậu chưa đồng bộ - Chưa có đội ngũ nghiên cứu phát triển. - Hoạt động tiếp thị, hỗ trợ bán hàng chưa phát triển - Chưa quy hoạch được vùng nguyên liệu |
Cơ hội O | Các kết hợp chiến lược SO | Các kết hợp WO |
- Thu nhập tăng - Quan hệ quốc tế dần mở rộng - Xu hướng muốn có chè sạch, chất lượng cao ngày càng tăng - Được sử dụng nhiều trong các ngày lễ, tết và các ngày thường | - Chọn giống chè có năng suất cao. - Mở rộng thị trường tiêu thụ ra các nước trên thế giới. - Thực hiện kích thích tiêu thụ trong những ngày lễ cổ truyền dân tộc. | - Tận dụng được mối quan hệ để nhập khẩu giống chè có ngân sách cao. - Khắc phục tính đồng bộ của dây chuyền để nâng cao chất lượng sản phẩm - Thuê chuyên gia nghiên cứu thị trường và chuyên gia thiết kế mẫu mã sản phẩm. |
Thách thức T | Các kết hợp chiến lược ST | Các kết hợp chiến lược WT |
- Sản phẩm của đối thủ cạnh tranh có chất lượng cao - Đối thủ có chiến lược truyền thống và khuyễn mãi mạnh | - Nghiên cứu tìm hiểu điểm yếu mạnh của đối thủ cạnh tranh. - Tiết kiệm các khoản chi phí phụ để hạ giá thành, thu hút khách hàng nhạy cảm về giá | - Cố gắng duy trì sản phẩm hiện tại và tìm cách thay thế dần dây chuyền sản xuất cho đồng bộ - Thay đổi mẫu mã sản phẩm tiêu thụ không tốt |
IV. GIẢI PHÁP THỊ TRƯỜNG
1. Nhận thức tầm quan trọng marketing kinh doanh.
Marketing giúp cho doanh nghiệp có thể tồn tại lâu dài và vững chắc trên thị trường do nó cung cấp khả năng thích ứng với những thay đổi của thị trường và môi trường bên ngoài. Thành công của doanh nghiệp phụ thuộc họ có cung cấp được cho thị trường đúng cái thị trường cần, phù hợp với mong muốn và khả năng của người tiêu dùng hay không.
Marketing đã tạo ra sự kết nối các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp với thị trường trong tất cả các giai đoạn của quá trình tái sản xuất, marketing đã cung cấp các hoạt động tìm kiếm thông tin thị trường và truyền tin về doanh nghiệp ra thị trường, nghiên cứu phát triển sản phẩm mới, tiêu thụ sản phẩm, cung cấp dịch vụ khách hàng …
Marketing được coi là chức năng quan trọng nhất của doanh nghiệp. Nó đóng vai trò kết nối hoạt động của chức năng khác với thị trường. Nó định hướng hoạt động cho các chức năng khác như sản xuất, nhân sự, tài chính theo những chiến lược đã định. Tất nhiên bộ phận marketing chỉ có thể hoạt động tốt nếu có sự phối hợp và ủng hộ của các bộ phận chức năng khác. Mặt khác, khi làm các quyết định marketing nhà quản trị luôn luôn phải tính đến ảnh hưởng của các bộ phận chức năng khác. Ví dụ nguồn vốn, trình độ công nghệ, tình trạng lao động ảnh hưởng rất lớn đến các quyết định marketing. Nhà quản trị phải phối hợp được các chức năng với nhau để tạo nên sức mạnh tổng hợp trên thị trường.
Tóm lại, chúng ta có thể thấy rõ ràng marketing thực sự quan trọng đối với hoạt động kinh doanh:
- Marketing là một khoa học cung cấp một tập hợp kiến thức giải quyết quan hệ giữa tổ chức với môi trường bên ngoài, có đối tượng và mục tiêu nghiên cứu riêng.
- Marketing trở thành triết lý kinh doanh của mọi loại hình kinh doanh và tổ chức, nó đồng nghĩa với hoạt động kinh doanh nói chung.
Peter Drucker, nhà quản trị hàng đầu thế giới nói "Marketing là hết sức cơ bản đến mức độ không thể xem nó là một chức năng riêng biệt. Nó là toàn bộ công việc kinh doanh dưới góc độ kết quả cuối cùng, tức là dưới góc độ khách hàng … Thành công trong kinh doanh không phải là do sản xuất, mà chính là do khách hàng quyết định".
- Marketing là 1 chức năng quản trị chủ yếu trong doanh nghiệp với chức năng, nhiệm vụ cụ thể thực hiện các hoạt động marketing và vì vậy cần một bộ máy nhân sự cụ thể.
- Marketing là một lĩnh vực nghề nghiệp thuộc khối quản trị kinh doanh từ giám đốc marketing tới các chuyên gia marketing.
Có nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của marketing như trên mới đặt marketing vào đúng vị trí của nó trong kinh doanh, không tầm thường hoá hoặc nhận thức phiến diện về nó. Những tư tưởng của marketing là rất rõ ràng nhưng thực tế hiện nay cho thấy ngành chè Thái Nguyên và nhiều doanh nghiệp trong các lĩnh vực khác ở Việt Nam chưa nhận thức đầy đủ về marketing, chưa quan tâm, chưa biết marketing thực sự.
2. Chọn thị trường mục tiêu.
Chè là loại đồ uống từ lâu đã quen thuộc với nhân dân ta và được nhân dân ta sử dụng như một loại đồ uống bình thường. Bởi vì nó phù hợp với thu nhập của người Việt Nam lúc này.
Chính vì vậy, chè Thái Nguyên có thể chọn thị trường mục tiêu của mình theo kiểu chuyên môn hoá sản phẩm. Tuy nhiên thu nhập ở Việt Nam chưa được đồng đều, khoảng cách giàu nghèo còn cao do đó chè Thái Nguyên phải đưa ra được các sản phẩm có sự phân biệt theo từng mức thu nhập của người dân.
3. Định vị.
Sau khi đã xác định được thị trường mà chè Thái Nguyên phục vụ cần phải tiến hành định vị mình trên thị trường đó. Nêu được những điểm khác biệt nổi bật của mình so với các đối thủ khác.
Song không phải tất cả những điểm khác biệt đều có giá trị. Không phải mọi thứ khác biệt đều tạo nên đặc điểm khác biệt. Vì vậy cần phải lựa chọn thận trọng cách để làm cho mình khác biệt với các đối thủ cạnh tranh. Chỉ nên tạo ra điểm khác biệt khi nó thảo mãn được những tiêu chuẩn sau: quan trọng, đặc biệt, tốt hơn, dễ truyền đạt đi trước, vừa túi tiền và có lời.
Đối với chè Thái Nguyên có thể định vị mình bằng chất lượng sản phẩm, sạch và thơm ngon.
4. Xây dựng 4P.
* Sản phẩm P1: để đảm bảo thực hiện tốt yêu cầu P1 cần phải làm tốt những nhiệm vụ sau:
- Chọn và nhân giống chè:
Không thể có sản phẩm chất lượng cao, số lượng nhiều nếu không quan tâm tới việc chọn giống và nhân giống chè chất lượng cao.
Ngành chè Thái Nguyên phải tuyển giống chè ở các khu vực, nhất là giống chè phù hợp với điều kiện sin thái gần giống với Thái Nguyên (như Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản …) nhân giống để có chất lượng cao như 777, LĐP 1 - 2, Sham …
+ Phân vùng để phát triển các bộ giống thích hợp tuỳ theo từng giống chè.
+ Thành lập các trung tâm, thuê các chuyên gia, kỹ sư nông nghiệp để nhân giống chè.
- Quy hoạch vùng nguyên liệu:
Ở Thái Nguyên hiện nay mới chỉ có một số vùng có sự quy hoạch, còn lại vẫn chưa được quy hoạch. Nên cần phải quy hoạch vùng trồng để có chính sách đầu tư thích hợp đem lại nguồn nguyên liệu đảm bảo năng suất và chất lượng theo đúng quy định, đáp ứng được những yêu cầu khi chế biến.
- Công nghiệp chế biến chè.
Hiện nay hầu hết chè xanh được chế biến bằng các công cụ lạc hậu, với một số thiết bị cơ bản, nên chất lượng không ổn định. Vì vậy cần phải đầu tư bổ sung thay đổi một số thiết bị cho dây chuyền hiện có để đảm bảo chất lượng ổn định và cao hơn.
- Đóng gói và gắn nhãn.
Đây là công đoạn cuối cùng về P1 để đưa sản phẩm ra thị trường. Sản phẩm chè cần phải đa dạng hoá với trọng lượng phù hợp với nhu cầu sử dụng của người tiêu dùng hiện nay. Cần phải phát triển sản phẩm kiểu túi lọc cho phù hợp với xu thế tiêu dùng hiện nay.
Việc gắn nhãn lên bao bì cũng cần phải hết sức thận trọng bởi vì nó cũng là yếu tố quyết định đến việc người tiêu dùng sẽ lựa chọn sản phẩm của mình hay của đối thủ cạnh tranh.
Danh mục sản phẩm chè Thái Nguyên hiện nay còn rất hạn chế cần phải nghiên cứu để bổ sung cho cả chiều dài và chiều sâu.
Về giá cả P2:
Chính sách giá cả có ảnh hưởng rất lớn đến quyết định mua của người tiêu dùng đối với sản phẩm. Trong những năm gần đây giá chè liên tục tăng sở dĩ chỉ vậy là phần lớn diện tích chè vẫn được nắm giữ bởi người dân và với kỹ thuật chế biến lạc hậu đã làm cho giá tăng. Cần sớm đưa giá chè về mức ổn định. Đảm bảo giá cả đi liền với chất lượng. Người tiêu dùng Việt Nam phần lớn rất nhạy cảm với giá nên cần phải định giá chè Thái sao cho đảm bảo được lợi thế cạnh tranh với chè trong nước và chè nhập ngoại.
Về kênh phân phối (P3):
Kênh phân phối chè Thái Nguyên hiện nay chưa được hợp lý mức độ đại lý còn thiếu và phân bố không đồng đều, chưa có chính sách cụ thể cho những đại lý tiêu thụ chè Thái Nguyên.
Cần phải đặt tổng đại lý các tỉnh tiêu thụ chè Thái Nguyên nhiều ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Thái Bình … hoặc có thể đặt đại lý theo khu vực. Ngoài ra, cần mở các văn phòng đại diện giới thiệu sản phẩm tạo điều kiện cho người tiêu dùng nhận biết và tiếp cận với chè Thái Nguyên.
Về chiến lược khuyếch trương (P4):
Để cho khách hàng biết đến mình đòi hỏi phải thông tin được để họ biết đến thông tin về mình vẫn chưa đủ mà cần phải có những chính sách hợp lý để tiêu thụ sản phẩm trước những đối thủ cạnh tranh của mình. Chiến lược truyền thông, khuyến mãi là công cụ để doanh nghiệp đạt được mục đích của mình.
* Quảng cáo: là công cụ có tác động mạnh đến người tiêu dùng. Việc xác lập chiến lược quảng cáo cho chè Thái Nguyên cần phải được trải qua 5 bước:
- Xác định rõ mục tiêu (Mission)
Bất kỳ một kế hoạch quảng cáo nào đều phải xác định rõ các mục tiêu mà doanh nghiệp nhằm đến: chè Thái Nguyên muốn tạo nhận thức cho khách hàng về nhãn hiệu, muốn thông tin về sự có mặt của sản phẩm trên thị trường, muốn thuyết phục khách hàng của mình và thuộc tính đặc trưng của sản phẩm hay muốn nhắc nhở khách hàng về sự thoả mãn của họ tỏng quá khứ …
Các mục tiêu này sẽ quyết định cách thức quảng cáo và phong cách quảng cáo - là quảng cáo thông tin hay quảng cáo thuyết phục, quảng cáo so sánh hay quảng cáo nhắc nhở. Đối với chè Thái Nguyên trong giai đoạn này mục tiêu quảng cáo nên là quảng cáo thông tin.
- Xác định ngân sách (Money)
Ngân sách quảng cáo nhiều hay ít sẽ quyết định đến việc lựa chọn phương tiện quảng cáo hay phối hợp các phương tiện để hình thành một chiến lược quảng cáo nhất quán. Phương pháp phổ biến hiện nay là xác định ngân sách dựa trên tỷ lệ % theo doanh số.
- Lựa chọn phương tiện quảng cáo (Media)
Quảng cáo được thực hiện thông qua nhiều phương tiện như: truyền sóng (radio, truyền hình), phương tiện in ấn, báo chí, tạp chí, ấn phẩm, quảng cáo ngoài trời (out door): pano, quảng cáo qua bưu phẩm … Mỗi phương tiện quảng cáo đều có ưu điểm, nhược điểm. Do đó khi thực hiện quảng cáo tuỳ theo mục tiêu, ngân sách, … mà lựa chọn. Nếu hạn chế về tài chính, chỉ nên tập trung nỗ lực vào một phương tiện duy nhất để gây ảnh hưởng hơn là trải đều thông điệp trên nhiều phương tiện.
- Thông điệp quảng cáo (Messages)
Thông điệp phải ngắn gọn, dễ nhớ, dễ hiểu, có tính độc đáo giữ hình ảnh và phải nhằm đến khách hàng mục tiêu của sản phẩm.
Một mẫu quản cáo muốn tạo ấn tượng đối với khách hàng phải có ý tưởng chỉ đạo, có điểm nhấn … Đôi khi một mẫu quảng cáo quá tập trung vào nhân vật nổi tiếng mà làm lu mờ đi hình ảnh đặc biệt của sản phẩm thì cũng không phải là tốt.
- Đo lường đánh giá tác động của quảng cáo (Measurement).
Đánh giá tác động của quảng cáo để xác định thông điệp mà mình mong muốn có đến đúng đối tượng hay không, họ đã tiếp nhận thông điệp đó như thế nào và tác động của thông điệp đến nhân thức hành vi và thói quen mua sắm của họ.
* Kích thích tiêu thụ:
Để tăng doanh số bán, tận dụng cơ hội trong những dịp như: lễ hội, ngày tết hoặc để cho người tiêu dùng dùng thử sản phẩm của mình, và quảng bá ra thị trường buộc doanh nghiệp phải có chính sách khuyến mãi.
Kích thích tiêu thụ thường kích thích những người hay thay đổi nhãn hiệu bởi vì những người sử dụng nhãn hiệu và loại khác không phải bao giờ cũng lưu ý hay hành động theo một hình thức khuyến mãi nào.
- Một số quyết định chủ yếu trong kích thích tiêu thụ.
+ Xác định mục tiêu kích thích tiêu thụ.
Những mục tiêu kích thích tiêu thụ được rút ra từ những mục tiêu khuyến mãi rộng hơn. Những mục tiêu này lại được rút ra từ những mụctiêu marketing cơ bản đề ra cho sản phẩm.
Đối với mục tiêu của chè Thái Nguyên hiện nay là mở rộng thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước. Vì vậy chiến lược kích thích tiêu thụ cho chè Thái Nguyên phải phục vụ cho mục đích marketing chung.
- Lựa chọn các công cụ kích thích tiêu thụ:
Chè Thái Nguyên trong chiến lược mở rộng thị trường tiêu thụ này có thể sử dụng một số công cụ như: tặng kèm một túi có in hình nhãn hiệu và một số những cách thức sử dụng …, và một số giải thưởng lớn hơn như tivi, tủ lạnh … Trong giai đoạn này cũng nên chiết giá để cạnh tranh với sản phẩm nhập ngoại.
Tổ chức bày sản phẩm các hội chợ và hội thảo để giới thiệu sản phẩm đến người tiêu dùng.
- Xây dựng chương trình kích thích tiêu thụ.
Người làm marketing phải xác định một chương trình kích thích tiêu thụ cụ thể phù hợp với mục tiêu, và công cụ kích thích mà mình đã chọn. Đặt ra được những điều kiện được tham gia và lĩnh thưởng …
- Thử nghiệm trước chương trình kích thích tiêu thụ.
Một chương trình dù hoàn hảo đến đâu cũng có thể xảy ra những sai lầm. Để hạn chế, trước khi tung ra đại trà cần phải thủ nghiệm trước.
- Thực hiện và kiểm tra chương trình kích thích tiêu thụ.
- Đánh giá kết quả kích thích tiêu thụ.
Sau chương trình kích thích tiêu thụ cần phải đánh giá xem hiệu quả của nó đến mức nào. Có được người tiêu dùng ủng hộ hay không? Doang số bán và thị trường ra sao? …
Ngoài quảng cáo và kích thích tiêu thụ đòi hỏi Công ty chè cần phải hiểu và thực hiện quan hệ công chúng một cách hiệu quả vì nó cũng là yếu tố quan trọng trong P4 để đưa doanh nghiệp đến thành công.
5. Xây dựng cho chè Thái Nguyên một thương hiệu chính thức.
Thương hiệu là vấn đề lớn và nếu có thương hiệu, Công ty phải đảm bảo được chất lượng và song song với đó, dưới một thương hiệu có thể đa dạng hoá sản phẩm của Công ty. Tên gọi của một thương hiệu cần phải đáp ứng được những yêu tố như đơn giản, dễ nhớ, dễ đọc và mang tính quốc tế.
Với chè Thái Nguyên có thể đặt thương hiệu "Chè Thái Nguyên". Bởi vì cây chè đã gắn với sự phát triển của tỉnh Thái Nguyên từ lâu và nó được xem như là một đặc sản của vùng chính vì vậy bất cứ là người trong hay ngoài nước khi nói đến Thái Nguyên đều biết đến chè. Hơn nữa khi đặt thương hiệu "Chè Thái Nguyên" cũng đảm bảo được yêu cầu đặt ra là đơn giản, dễ nhớ dễ hiểu. Một thương hiệu mạnh của chè Thái Nguyên với chất lượng ổn định giá cả phù hợp sẽ tạo điều kiện dễ dàng hơn cho người tiêu dùng và đặc biệt là giành lại thị trường (thị phần) đang bị các thương hiệu chè nước ngoài "gặm nhấm"
KẾT LUẬN
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh diễn ra khốc liệt. Phần thắng sẽ giành cho người nào mà họ làm tốt công tác thị trường, hiểu được khách hàng của mình muốn gì, cần gì để đáp ứng tốt hơn đối thủ cạnh tranh của mình. Để đáp ứng tốt hơn đối thủ của mình Công ty cần phải xác định cho mình một thị trường mục tiêu phù hợp với khả năng tài chính và năng lực của Công ty. Chính vì thế vai trò của hoạt động marketing rất quan trọng. Nó không những giúp chủ doanh nghiệp hiểu được hành vi của khách hàng (Mua khi nào, ở đâu, cách thức mua, cho ai như thế nào …) mà còn khai thác được những biểu hiện của đối thủ cạnh tranh để đưa ra một chiến lược marketing phù hợp. Hoạt động marketing không chỉ do chính các phòng ban marketing thực hiện mà cần phải có sự tham gia nỗ lực của toàn Công ty mới có thể đem lại kết quả cao nhất.
Do hạn chế về cả lý thuyết và thực tế nên bài viết khó tránh khỏi những sai sót. Rất mong được sự đóng góp chân thành của các thầy cô, để em có thêm kinh nghiệm, hiểu biết trong những bài viết sau.
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Trần Minh Đạo đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em hoàn thành bài viết này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Tạp chí kinh tế và phát triển số 31 tháng 7 - 8/1999
- Thương mại số 7 năm 2000
- Thương mại số 4 năm 2000
- Thị trường số 4 năm 1999
- Thị trường giá cả số 3 - 6/ 2001
- Nông nghiệp và phát triển nông thôn số 2/2001
- Kinh tế Châu á - TBD số 3/2001
- Tiếp thị số 21/2001
- Quản trị marketing - Philip - Koaer - NXB Thống kê.
MỤC LỤC
Lời nói đầu
I. Cơ sở lý thuyết:
I1. Nhu cầu thị trường:
I2. Các bước phân khúc thị trường, xác định thị trường mục tiêu và xác định vị trí.
1. Phân khúc thị trường.
2. Xác định thị trường mục tiêu:
3. Định vị trên thị trường.
II. Tổng quan về thị trường chè.
II.1. Khái quát thực trạng thị trường chè thế giới và trong nước.
1. Khái quát thực trạng thị trường chè thế giới.
2. Thực trạng sản xuất kinh doanh chè Việt Nam.
II.2. Thực trạng kinh doanh chè Thái Nguyên.
1. Về chất lượng và số lượng sản phẩm tiêu thụ.
2. Về giá tiêu thụ chè Thái Nguyên
3. Bao bì nhãn hiệu và công dụng của chè Thái Nguyên.
III. Cơ hội và thách thức với kinh doanh chè Thái Nguyên.
III.1. Xu hướng của ngành chè.
III.2. Cơ hội và thách thức.
1. Cơ hội:
2. Thách thức:
3. Phân tích cơ hội ma trận
IV. Giải pháp thị trường
1. Nhận thức tầm quan trọng marketing kinh doanh.
2. Chọn thị trường mục tiêu.
3. Định vị.
4. Xây dựng 4P.
5. Xây dựng cho chè Thái Nguyên một thương hiệu chính thức.
Nhận xét
Đăng nhận xét