Trong thời gian tới, tỉnh tiếp tục khẳng định cây chè là một trong những cây trồng chủ lực, đầu tư phát triển chè Tân Cương Thái Nguyên là nhiệm vụ
“Đệ nhất” chè Tân Cương Thái Nguyên 2021
Được triển khai từ năm 2019, đến nay, việc thực hiện Chương trình OCOP của tỉnh Thái Nguyên đã giúp nhiều sản phẩm thế mạnh của địa phương khẳng định được thương hiệu tại thị trường trong nước.
Với trên 200 làng nghề chè truyền thống, tạo nên hàng loạt thương hiệu nổi tiếng trong và ngoài nước như: Chè Tân Cương (TP. Thái Nguyên), chè La Bằng (Đại Từ), chè hữu cơ Sông Cầu, làng nghề chè Vô Tranh - Tức Tranh (Phú Lương)… Có tới 70 - 80% sản lượng được tiêu thụ trong nước, 20 - 30% sản lượng chè chế biến xuất khẩu. Do đó, việc xây dựng các sản phẩm OCOP đã tạo cơ hội cho người dân địa phương có việc làm, nâng cao thu nhập, góp phần xây dựng thành công Chương trình nông thôn mới (NTM) ở Thái Nguyên.
Giai đoạn 2019 – 2025, tỉnh thực hiện Đề án OCOP với kinh phí hơn 700 tỷ đồng, trong đó nguồn ngân sách tỉnh hơn 70 tỷ đồng; ngân sách huyện, xã hơn 60 tỷ đồng, vốn lồng ghép các nguồn vốn hỗ trợ cho chương trình trên 240 tỷ đồng và vốn xã hội hóa hơn 360 tỷ đồng... Năm 2019, năm đầu tiên Thái Nguyên có 25 sản phẩm nông nghiệp của 8 hợp tác xã (HTX) và doanh nghiệp được cấp chứng nhận sản phẩm OCOP 3, 4 sao. Đến nay, địa phương có gần 200 sản phẩm có điều kiện trở thành sản phẩm OCOP, tiêu biểu như: Chè Tân Cương, miến dong của HTX miến Việt Cường (huyện Đồng Hỷ), tương nếp Úc Kỳ (huyện Phú Bình), gạo Bao Thai Định Hóa...
Ông Trần Nho Hưởng - Phó Chánh văn phòng điều phối Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng NTM tỉnh Thái Nguyên – cho biết, việc triển khai Chương trình OCOP đến nay đã có những kết quả khả quan về số lượng, mẫu mã, chất lượng sản phẩm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu thị trường, tạo lòng tin của người tiêu dùng, dần hình thành nhóm sản phẩm đặc sản của từng vùng.
Đáng nói, Chương trình OCOP giúp thúc đẩy nhanh quá trình liên kết, hợp tác giữa người nông dân và các HTX, doanh nghiệp. Từ đó, giá trị kinh tế của sản phẩm được nâng lên từ 20% trở lên nhờ đạt tiêu chí OCOP, thúc đẩy tăng doanh số bán hàng của các đơn vị có sản phẩm đạt 3, 4 sao. Mặt khác, việc thực hiện Chương trình OCOP góp phần nâng cao trách nhiệm của người sản xuất và nhận thức của người tiêu dùng...
Để đạt mục tiêu đến hết năm 2020, Thái Nguyên có ít nhất 50 sản phẩm được chứng nhận đạt chuẩn OCOP trên cơ sở các sản phẩm chủ lực, thế mạnh của các địa phương thành sản phẩm OCOP, tỉnh thực hiện cơ chế hỗ trợ sản phẩm OCOP đạt 3 sao với mức 20 triệu đồng/sản phẩm, đạt 4 sao được hỗ trợ 30 triệu đồng/sản phẩm và 5 sao được hỗ trợ 40 triệu đồng/sản phẩm. Bên cạnh đó, phát triển mạnh các sản phẩm nông nghiệp, phi nông nghiệp, dịch vụ có lợi thế ở mỗi địa phương theo chuỗi giá trị, trọng tâm là sản phẩm từ chè, lúa, gạo đặc sản, miến, hoa quả, thực phẩm và sản phẩm dịch vụ du lịch, xây dựng hệ thống trung tâm, điểm giới thiệu và bán sản phẩm OCOP, gian hàng OCOP.
Cùng với đó, các huyện, thành, thị trong tỉnh sẽ phát triển loại hình siêu thị, cửa hàng phân phối sản phẩm cấp xã, huyện. Xây dựng ở mỗi huyện 1 mô hình điểm về phát triển sản phẩm OCOP. Đồng thời, đẩy mạnh xúc tiến thương mại, kết nối tiêu thụ các sản phẩm bằng việc lồng ghép đưa sản phẩm OCOP tham gia hội chợ, hoạt động triển lãm; tổ chức đánh giá, xếp hạng sơ bộ sản phẩm OCOP năm 2020 theo quy định...
Ông Dương Văn Lượng - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên: Việc xây dựng Chương trình OCOP góp phần khai thác hiệu quả hơn tiềm năng, thế mạnh của mỗi địa phương, phát triển các sản phẩm có chất lượng theo đúng quy chuẩn, tăng khả năng cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu của thị trường trong bối cảnh hội nhập
DNVN - Hợp tác xã Trà Sơn Dung là đơn vị sản xuất, chế biến trà búp, Trà Tân Cương Thái Nguyên chính hiệu, an toàn, sạch, đảm bảo chất lượng và có thương hiệu nổi tiếng tại mảnh đất Thái Nguyên “Đệ nhất danh Trà”.
Gợi ý quà tặng gốm Chu Đậu sang trọng đỉnh cao / Nhiều nhà đầu tư Nhật Bản đang tiến vào Việt Nam
Vợ chồng bà Vũ Thị Dung - sáng lập ra thương hiệu Sơn Dung Trà.
HTX được thành lập, phát triển từ khởi điểm là cơ sở kinh doanh, sản xuất nhỏ lẻ lâu đời của bà Vũ Thị Dung - người phụ nữ đảm đang, tâm huyết, đã nhiều năm gắn bó với cây chè và nghề trồng chè.
Niềm tâm huyết đặc biệt dành cho cây chè của bà Dung đã lan tỏa, thẩm thấu, trở thành nguồn động lực mạnh mẽ gắn kết, thu hút những thành viên trong gia đình và các hộ trồng chè tại địa phương cùng bắt tay nhau xây dựng, hợp tác, tìm hướng phát triển xứng tầm cho cây chè, góp phần quảng bá cho thương hiệu Trà Thái Nguyên nói chung, Trà Sơn Dung nói riêng ngày càng lớn mạnh.
Chúng tôi có may mắn được đến thăm và thưởng trà tại showroom HTX vào một ngày đẹp trời, giữa không khí đầm ấm, nồng hậu, đậm đà bản sắc dân tộc của không gian văn hóa Trà cùng những con người mến khách nơi đây. Tiếp đón chúng tôi là các thành viên trong đại gia đình Sơn Dung Trà.
Nhấp chén chè thơm, xanh biếc, thoảng vị sen nồng, bà Dung bồi hồi kể về những ngày tháng vất vả, lăn lộn, chật vật để tạo dựng thương hiệu cho riêng mình. Hàng ngày, hai vợ chồng ông Sơn, bà Dung và các con đều phải dậy từ rất sớm để hái trà, sao trà. Những búp chè non tươi còn ngậm hơi sương được hấp thụ ánh nắng ban mai buổi sớm sẽ được hái và đưa vào công đoạn làm héo, diệt men, vò, sao sấy thủ công, lấy hương và đóng gói thành sản phẩm. Mẻ chè ngon như là sản vật tinh hoa của trời đất, mang đến hương vị độc đáo, tiền chát hậu ngọt, thơm mát và cảm giác thăng hoa, dễ chịu cho người thưởng thức.
HTX Trà Sơn Dung hiện có 14 thành viên, hàng trăm lao động thời vụ và gần 50 hộ liên kết cung cấp chè nguyên liệu tại các xã: Tân Cương, Phúc Xuân, Phúc Trìu (đều trực thuộc Vùng chè đặc sản Tân Cương Thái Nguyên). Với nhiều dòng sản phẩm truyền thống như: Chè đinh, Tôm nõn, Móc câu và các sản phẩm đặc biệt: Mộc Trà, An Trà, Sơn Trà, Thảo Trà, Lộc Trà, Trà túi lọc 3D… HTX Trà Sơn Dung đã sản xuất, chế biến, tiêu thụ mỗi năm hàng nghìn tấn chè tươi (ứng với 100 - 200 tấn chè búp khô) cung cấp ra thị trường trong và ngoài nước. Thị trường nước Nga và các nước Đông Âu từ lâu đã trở thành nơi tiêu thụ số lượng lớn các loại chè thượng phẩm của HTX Trà Sơn Dung trong nhiều năm qua.
Chị Nguyễn Thị Như Trang, con dâu bà Dung hiện đang điều hành HTX Sơn Dung Trà.
Với nỗ lực không ngừng và phương châm lấy chữ “Tín”, chữ “Tâm” làm kim chỉ nam cho mọi công đoạn kinh doanh, sản xuất, nâng tầm thương hiệu, các sản phẩm Sơn Dung Trà luôn chinh phục và làm vừa lòng cả những khách hàng khó tính nhất. Trà của HTX đã được Trung tâm Kiểm định chất lượng giống và vật tư hàng hóa nông nghiệp tỉnh Thái Nguyên kiểm định, cấp Chứng nhận đạt tiêu chuẩn VietGAP cho chè an toàn, sạch phục vụ xuất khẩu và người tiêu dùng.
Tại Thái Nguyên, Hà Nội và các thành phố lớn trên toàn quốc, thương hiệu Sơn Dung Trà đã trở nên vô cùng quen thuộc và rất được ưa chuộng bởi chất lượng thơm ngon, mẫu mã bao bì đẹp, sang trọng, lịch sự, chính sách giá tốt cho từng sản phẩm. Khách hàng đến giao dịch không chỉ được thưởng trà và trải nghiệm bên những nương chè xanh tươi bát ngát, mà còn được thăm quan các khu chế biến, sản xuất; được cùng các trà nương hái chè, sao chè, lên hương và nghe nhiều câu chuyện thú vị từ họ.
Gắn bó với cây chè hơn 40 năm, bà Dung ("nghệ nhân gạo cội" trong nghề làm trà) hiện tại đã là mẹ của 10 người con dâu, rể, là bà của một đàn cháu nhưng tình yêu với cây chè của bà vẫn còn nguyên vẹn, thậm chí còn dịu dàng, đằm thắm và sâu lắng hơn. Chúng tôi ngồi tiếp chuyện mới cảm nhận chân thực về tình yêu đó, thông qua việc nói chuyện hàng giờ, hàng ngày về trà mà vẫn say sưa, không hề vơi cạn.
Các con của bà Dung đều theo nghề truyền thống của cha mẹ. Hai vợ chồng người con cả (Tiến sĩ Trần Ngọc Giang và chị Nguyễn Thị Như Trang), ngoài thời gian giảng dạy trên giảng đường trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp Thái Nguyên đã về đầu quân giúp mẹ. Chị Trang giữ chức vụ Giám đốc kiêm Chủ tịch HĐQT HTX. Những người con còn lại là con dâu, con trai, con gái, con rể của ông bà Sơn - Dung cũng tham gia điều hành, quản lý, sản xuất, chế biến và mọi hoạt động của HTX.
Cách vận hành trơn tru kiểu sản xuất gia đình, mỗi thành viên như một mắt xích trong cỗ máy đó cũng là mô hình kinh doanh phổ biến và hiệu quả được áp dụng tại Thái Nguyên. Việc tích cực đưa khoa học kỹ thuật vào từng công đoạn trồng, chế biến để tăng năng suất, chất lượng, giảm sức lao động nặng nhọc đã góp phần không nhỏ vào thành công của HTX, đưa thương hiệu Sơn Dung Trà ngày càng bay cao, bay xa.
Sáng tạo kỹ thuật trong việc chế tạo tối ưu hóa các cánh gân máy vò chè để tạo độ xốp đồng đều khi lấy hương của Tiến sĩ Trần Ngọc Giang cũng được bà con đánh giá rất cao bởi máy vò cải tiến cho ra sản phẩm chè được lên hương đều, cánh đẹp, không bị gãy nát. Anh Giang cũng không ngại chia sẻ để các HTX khác có cơ hội học hỏi, vận dụng vào điều kiện sản xuất của mình, cùng cải tiến và phát triển.
Tiếp nối nghề truyền thống của quê hương và gia đình, HTX Trà Sơn Dung đã tích cực đóng góp vào công cuộc xóa đói giảm nghèo tại địa phương, giúp ổn định việc làm và tạo thu nhập cho người lao động. Trong thời gian tới, HTX sẽ tiếp tục mở rộng quy mô sản xuất, tăng cường đầu tư nhà xưởng, máy móc, thiết bị công nghệ và tích cực đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm tăng doanh thu và nâng cao hơn nữa đời sống kinh tế cho bà con xã viên.
Riêng đối với các hộ liên kết trồng chè sạch cung cấp nguyên liệu chuẩn VietGAP cho HTX sẽ được hỗ trợ, tạo điều kiện cao nhất với nhiều chế độ đãi ngộ như: Đầu tư nguồn vốn, giống, phân bón, lắp đặt hệ thống tưới tiêu… tạo đà cho việc canh tác nông nghiệp sạch, an toàn, phát triển bền vững và gìn giữ hương vị truyền thống của Chè Tân Cương Thái Nguyên, cũng như quảng bá hình ảnh tinh hoa văn hóa trà Việt với bạn bè quốc tế.
Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Thái Nguyên, hiện toàn tỉnh có trên 22.300ha trồng chè và là tỉnh có diện tích chè phát triển lớn nhất cả nước với năng suất chè búp tươi đạt trên 118 tạ/ha, sản lượng chè búp tươi hơn 240.000 tấn/năm.
Cây chè trở thành cây kinh tế chủ lực, đem lại giá trị kinh tế lớn cho địa phương, giá trị sản phẩm thu được trên 1ha bình quân khoảng 300-500 triệu đồng/ha, tại các vùng chè đặc sản có thể đạt từ 500-800 triệu đồng/ha.
Các sản phẩm chè Thái Nguyên đã được khẳng định trên thị trường trong nước, có triển vọng mở rộng ra thị trường thế giới.
Sản xuất chè đã góp phần tích cực vào xóa đói, giảm nghèo, làm giàu, xây dựng nông thôn mới, phát triển nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa bền vững ở địa phương và là phần thu nhập chủ yếu, quan trọng của trên 91.000 hộ làm chè trên địa bàn tỉnh.
Để nâng cao giá trị gia tăng, phát triển bền vững cây chè, từ năm 2010 đến nay, tỉnh Thái Nguyên đã đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu giống chè theo hướng trồng mới, trồng thay thế, cải tạo lại những nương chè trung du, già cỗi, năng suất, chất lượng thấp bằng các giống chè mới có năng suất, chất lượng cao phục vụ chế biến chè xanh cao cấp, đặc sản.
Đến năm 2020, diện tích chè giống mới đạt trên 18.200ha, chiếm 80% diện tích chè toàn tỉnh.
[Thành tựu 75 năm phát triển kinh tế: Nông nghiệp là nền tảng, trụ đỡ]
Cùng với chuyển đổi cơ cấu giống, Thái Nguyên đã chú trọng đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ trong sản xuất, chế biến chè an toàn, chất lượng.
Hầu hết diện tích chè của tỉnh được sản xuất theo hướng áp dụng quy trình sản xuất chè an toàn, hữu cơ.
Hiện Thái Nguyên đã có gần 20 % diện tích chè cho sản phẩm được chứng nhận VietGAP, GlobalGAP, UTZ Certified, sản xuất theo hướng hữu cơ.
Các hộ trồng chè đều ứng dụng thành thạo quy trình canh tác chè an toàn, chất lượng, tăng sử dụng phân bón hữu cơ, chế phẩm và thuốc trừ sâu sinh học, phát triển mạnh tưới chủ động, tưới tiết kiệm.
Hiện sản lượng chè chế biến các loại của tỉnh đạt gần 48.000 tấn; trong đó, chủ yếu là sản phẩm chè xanh truyền thống, chế biến theo quy mô nông hộ, ứng dụng cơ giới hóa trong tất cả các khâu, có những mô hình chế biến chè ứng dụng công nghệ tự động hóa, công nghệ cao, đa dạng hóa sản phẩm, chế biến thành phẩm, có bao bì nhãn mác.
Trong hơn 1 năm qua, Thái Nguyên tập trung phát triển sản phẩm OCOP và đã có 24 sản phẩm OCOP từ chè, xếp hạng từ 3 đến 4 sao. Nhờ vậy, chất lượng, an toàn thực phẩm trong sản xuất, chế biến chè ở Thái Nguyên được nâng cao rõ rệt.
Cùng với những nhiệm vụ, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm chè, Thái Nguyên đặc biệt chú trọng xây dựng thương hiệu, xúc tiến thương mại, tiêu thụ chè Thái Nguyên, phát triển hiệu quả nhãn hiệu tập thể "chè Thái Nguyên," thương hiệu chè mang chỉ dẫn địa lý ‘‘Chè Tân Cương” thành phố Thái Nguyên và các nhãn hiệu tập thể, chỉ dẫn địa lý khác của các vùng chè, làng nghề chè thuộc các huyện, thành phố, thị xã, như: “Chè La Bằng” huyện Đại Từ...
Tỉnh đã tổ chức, tham gia nhiều hoạt động xúc tiến thương mại trong nước và quốc tế về chè, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chè Thái Nguyên tham gia nhiều cuộc thi chất lượng chè quốc tế và đã đạt được những giải rất cao...
Theo ông Phạm Văn Sỹ, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên, thời gian qua, tỉnh đã thực hiện hiệu quả nhiều chính sách hỗ trợ phát triển chè bền vững, điển hình như Đề án phát triển chè và những chính sách hỗ trợ phát triển như hỗ trợ giống, sản xuất chè an toàn, chứng nhận VietGAP, hỗ trợ phát triển tưới tiết kiệm, phát triển thương hiệu, xúc tiến thương mại tiêu thụ sản phẩm... đồng thời thực hiệu lồng ghép các nguồn lực hỗ trợ phát triển chè.
Riêng trong giai đoạn 2016-2020, từ nguồn ngân sách, Thái Nguyên hỗ trợ gần 200 tỷ đồng cho phát triển cây chè; trong đó nguồn xây dựng nông thôn mới hỗ trợ 107 dự án sản xuất liên kết chuỗi hơn 65 tỷ đồng...
Trong thời gian tới, tỉnh tiếp tục khẳng định cây chè là một trong những cây trồng chủ lực, đầu tư phát triển chè Tân Cương Thái Nguyên là nhiệm vụ, giải pháp đột phá góp phần tái cơ cấu nông nghiệp nhanh và bền vững...
Thái Nguyên đặt mục tiêu đến năm 2030, diện tích chè của toàn tỉnh đạt 24.000 ha; trong đó, 100% diện tích chè sản xuất tập trung được áp dụng tiêu chuẩn GAP, hữu cơ, 80% trở lên diện tích chè ứng dụng công nghệ tưới chủ động, tiết kiệm nước.
Cùng với duy trì, nâng cao chất lượng các sản phẩm chè xanh truyền thống, Thái Nguyên tập trung đẩy mạnh thu hút doanh nghiệp đầu tư chế biến đa dạng hóa các sản phẩm chè và các sản phẩm có nguồn gốc từ chè như các loại đồ uống, bánh, kẹo, mỹ phẩm, thực phẩm chức năng... đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng trong và ngoài nước.
Thái Nguyên tiếp tục chuyển đổi cơ cấu giống, xây dựng vùng sản xuất nguyên liệu chè búp tươi an toàn, chất lượng cao, phát triển phong phú các loại sản phẩm chè nhằm nâng cao giá trị gia tăng, hiệu quả sản xuất chè.
Từ đó, phát triển hiệu quả các thương hiệu chè Thái Nguyên, gắn phát triển các vùng chè truyền thống với văn hóa, du lịch trải nghiệm, thực hiện hiệu quả chính sách thu hút đầu tư và hỗ trợ từ nguồn ngân sách cho phát triển chè bền vững.../.
Nhận xét
Đăng nhận xét