hợp tác xã, hộ nông dân tham gia vào chuỗi giá trị hàng hóa, đưa ngành NÔNG nghiệp của địa phương phát triển bền vững.
Tổ hợp tác sản xuất Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên hữu cơ Khe Cốc 2, xã Tức Tranh (Phú Lương)
Hiện nay, người tiêu dùng ngày càng khắt khe trong việc lựa chọn các mặt hàng nông sản có lợi cho sức khỏe, trong đó có sản phẩm Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên với quy trình sản xuất thân thiện môi trường .
Nhận thức được điều đó, thời gian qua, một số hợp tác xã, doanh nghiệp, hộ sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh đã dần chuyển hướng sản xuất Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên hữu cơ để bảo vệ sức khỏe bản thân và khách hàng. Qua đó, góp phần thay đổi tư duy sản xuất của bà con, hướng đến nền nông nghiệp an toàn.
Đến thực tế tại những nương Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên của bà con xóm Chính Phú 2, Chính Phú 3, xã Phú Xuyên (Đại Từ), chúng tôi cảm nhận bầu không khí trong lành. Những luống Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên thẳng hàng tăm tắp, được tưới bằng hệ thống tưới nước tiết kiệm, búp mọc đều tua tủa trông thật đẹp mắt.
Anh Đỗ Thành Lân, Bí thư Chi bộ xóm Chính Phú 3 phấn khởi nói: Bắt đầu từ năm 2020, bà con chúng tôi triển khai sản xuất Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên theo hướng hữu cơ. Cái được lớn nhất đó là môi trường đã dần được cải thiện. Nếu như trước đây, hầu như ngày nào cũng có nhà phun thuốc trừ sâu khiến không khí nồng nặc mùi thuốc, phải đóng kín cửa để tránh hít phải khí độc thì nay đã không còn tình trạng này. Ngoài ra, phân chuồng cũng được chúng tôi ủ hoai mục rồi mới bón cho cây Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên chứ không vãi trực tiếp nên không còn ruồi nhặng bậu gây ô nhiễm. Bà con cũng không sử dụng thuốc trừ cỏ mà dùng máy cắt cỏ.
Còn chị Đào Thị Thoi, Tổ trưởng tổ sản xuất Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên hữu cơ Chính Phú thì hào hứng: Hiện nay, chúng tôi có 22 thành viên, tham gia sản xuất Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên hữu cơ với diện tích 5ha. Thời gian đầu, Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên bị sâu bệnh nhiều nên sản lượng sụt giảm tới 70%, chất lượng và giá bán cũng giảm khiến bà con chán nản. Vì thế, chúng tôi vừa làm vừa tuyên truyền, vận động, thuyết phục bà con. Dần dà, sau hơn 1 năm, cây Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên bắt đầu hồi phục và đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn rõ rệt. Cụ thể, mặc dù sản lượng Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên hiện chỉ đạt 60-70% so với trước đây nhưng giá bán đã tăng lên từ 200 lên 400 nghìn đồng/kg, thậm chí có nhà bán với giá 500 nghìn đồng/kg và được đông đảo khách hàng ưa chuộng.
Rời Phú Xuyên, xuôi về vùng Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên Phúc Trìu (T.P Thái Nguyên), chúng tôi cũng cảm nhận được sự thay đổi trong tư duy sản xuất Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên của bà con nơi đây. Chị Phạm Thị Thủy, thành viên Hợp tác xã Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên Thủy Thuật chia sẻ: Chúng tôi hiện sản xuất 5ha Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên theo hướng hữu cơ. So với làm Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên thông thường thì sản xuất Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên hữu cơ vất vả hơn, mất nhiều công lao động hơn và chi phí cũng cao hơn. Chẳng hạn, trong khâu chăm sóc, nếu bón phân hóa học thì chỉ cần vãi đạm, lân xuống gốc rồi tưới nước là cây Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên sẽ lên xanh tốt. Nhưng đối với Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên hữu cơ, chúng tôi phải cuốc hố để bón phân chuồng hoai mục. Ngoài ra, để Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên có độ béo, độ ngọt, ngậy, thơm, nhà tôi còn bón thêm phân cá và đỗ tương.
Ngoài 2 địa phương nói trên, hiện nay, trên địa bàn tỉnh còn có Tổ hợp tác sản xuất Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên hữu cơ Khe Cốc 2, xã Tức Tranh (Phú Lương); Tổ hợp tác sản xuất Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên hữu cơ thị trấn Sông Cầu (Đồng Hỷ); Tổ hợp tác sản xuất Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên hữu cơ Tân Sơn và Tổ hợp tác sản xuất Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên hữu cơ La Cút, xã La Bằng (Đại Từ) với tổng diện tích hơn 60ha. Để hỗ trợ các tổ hợp tác, hợp tác xã, thời gian qua, tỉnh cũng đã có chính sách khuyến khích bà con đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất thâm canh Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên, áp dụng quản lý dịch hại tổng hợp theo IPM và đánh giá duy trì chuyển đổi sản xuất hữu cơ.
Anh Nguyễn Đình Thông, Phó Giám đốc Trung tâm khuyến nông Thái Nguyên: Thời gian chuyển đổi sản xuất Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên hữu cơ theo quy định từ 18-36 tháng và phụ thuộc vào lịch sử canh tác, quá trình trồng, chăm sóc và kết quả phân tích mẫu định kỳ 12 tháng/lần. Nhưng đổi lại, người dân sẽ được nhiều lợi ích từ kinh tế đến môi trường sinh thái. Vì vậy, bà con cần kiên trì tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật để đảm bảo sản phẩm Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên đạt tiêu chuẩn hữu cơ. |
Anh Nguyễn Đình Thông, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Thái Nguyên cho biết: Chúng tôi đã phối hợp chặt chẽ với chính quyền các địa phương tăng cường công tác tuyên truyền, vận động để người dân nhận thức được lợi ích của sản xuất Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên hữu cơ và hỗ trợ khắc phục các điểm chưa phù hợp từ khâu kiểm soát vật từ đầu vào, kiểm soát ô nhiễm vùng sản xuất, ghi chép nhật ký nông hộ, cập nhập hồ sơ quản lý. Ngoài ra, bà con còn được Nhà nước hỗ trợ 40% vật tư, gồm: Phân bón vi sinh; chế phẩm sinh học; bao bì đựng sản phẩm… Kết quả, sau gần 2 năm chuyển đổi sang sản xuất Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên hữu cơ, môi trường sinh thái ở các nương Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên bắt đầu có sự thay đổi rõ rệt, không khí trong lành hơn vì không có thuốc bảo vệ thực vật và thuốc trừ cỏ độc hại. Cây Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên khỏe hơn, phiến lá dày hơn, búp Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên mập và non lâu, khi chế biến có độ dính cao. Khi pha màu nước xanh trong, sóng sánh, vị ngọt hậu, giá bán cũng tăng.
Thái Nguyên hiện là tỉnh có diện tích Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên lớn nhất cả nước với 22.500ha; năng suất ước đạt 119 tạ/ha, sản lượng Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên búp tươi đạt trên 230 nghìn tấn. Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên được xác định là cây trồng chủ lực có tiềm năng, thế mạnh đặc biệt của tỉnh với trên 91.000 cơ sở, hộ sản xuất, kinh doanh Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên, chiếm gần 50% tổng số hộ sản xuất nông nghiệp của tỉnh. Tuy nhiên, diện tích Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên hữu cơ còn khiêm tốn trong khi hiệu quả mà phương thức sản xuất mới này mang lại rất rõ rệt. Chính vì vậy, bà con mong nhận được sự quan tâm hơn nữa của Nhà nước trong việc hỗ trợ máy móc phục vụ sản xuất, xây dựng thương hiệu, đẩy mạnh việc quảng bá, tiêu thụ sản phẩm. Đồng thời, quy hoạch các vùng sản xuất Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên hữu cơ tập trung với chất lượng ổn định để hướng tới xuất khẩu bền vững.
Thực hiện tái cơ cấu ngành Nông nghiệp theo hướng nâng cao sức cạnh tranh, giá trị gia tăng và phát triển bền vững, hiện nay, T.X Phổ Yên đã quy hoạch xây dựng 4 vùng sản xuất nông nghiệp tập trung tại xã Phúc Thuận với tổng diện tích trên 700ha.
Các vùng sản xuất tập trung gồm: Vùng sản xuất cây ăn quả (thuộc các xóm: Khe Đù, Khe Lánh, Quân Xóm và Hang Dơi), diện tích 600ha; 2 vùng sản xuất Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên ở xóm 6 và 7 (mỗi vùng 50ha); vùng chăn nuôi tại xóm Đèo Nứa, diện tích trên 30ha. So với một số địa phương khác, xã Phúc Thuận có những yếu tố thuận lợi để hình thành các vùng sản xuất tập trung như: Đã có vùng cây ăn quả tập trung tại xóm Khe Đù, Khe Lánh với diện tích khoảng 300ha; có truyền thống trồng và chế biến Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên với 12 làng nghề hoạt động hiệu quả; xóm Đèo Nứa cũng đã có gần 10 trang trại chăn nuôi lợn với quy mô vừa và nhỏ...
Trước đó, T.X Phổ Yên cũng đã xây dựng được một số vùng sản xuất chuyên canh tập trung như: Sản xuất rau an toàn (tại các xã Đông Cao, Tiên Phong, Minh Đức); sản xuất lúa chất lượng cao đại trà (tại các xã Tiên Phong Thuận Thành, Đắc Sơn) với diện tích trên 100ha; sản xuất cây ăn quả có diện tích 300ha (tại các xã Phúc Thuận, Minh Đức, Thành Công); sản xuất Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên an toàn (tại các xã Phúc Thuận, Phúc Tân, Minh Đức) với diện tích trên 200ha…
Việc xây dựng các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung sẽ giúp người dân được tiếp cận với khoa học kỹ thuật, từ đó nâng cao năng suất, giá trị cây trồng và tăng thu nhập. Đồng thời, thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, hình thành mô hình liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ nông dân tham gia vào chuỗi giá trị hàng hóa, đưa ngành NÔNG nghiệp của địa phương phát triển bền vững.








Nhận xét
Đăng nhận xét